Vận đơn đường biển tên tiếng anh là Bill of lading, thường được gọi ngắn gọn là Bill hoặc B/L – là một loại chứng từ trong Logistics chuyên chở bằng đường biển, do người chuyên chở cho shipper khi đã nhận được hàng, hoặc do người đại diện (hãng tàu) cấp sau khi đã xếp hàng lên tàu.

Để dễ dàng kiểm soát hàng hóa, người ta chia ra làm 2 loại B/L đó là Master Bill (MBL)House Bill (HBL), điều này gây nhầm lẫn, khó phân biệt cho bạn đọc cũng như nhân viên trong nghề. Hôm nay mình sẽ tổng hợp lại cách phân biệt 2 loại B/L này để mọi người hiểu rõ hơn.

PHÂN BIỆT MASTER BILL VÀ HOUSE BILL

House Bill( HBL): Là vận đơn do công ty Forwarder phát hành cho shipper, trên bill có thể hiện logo của công ty Forwarder chứ không có logo của hãng tàu. Trên HBL shipper là chủ hàng và consignee là người mua hàng thực thụ

Sau khi shipper nhận được MBL hoặc HBL gốc sẽ gửi qua cho consignee để nhận hàng. Đó là trên lý thuyết, còn thường thì shipper sẽ đổi bill gốc lấy surrender bill để telex release qua cho consignee cho tiện, phí telex release mất khoảng 200k.

HBL:

Shipper: real shipper

Consignee: real consignee

Master Bill (MBL): là vận đơn mà hãng tàu phát hành cho khách hàng trực tiếp (shipper), cụ thể trên bill thể hiện người gửi hàng (shipper) và người nhận hàng thực tế (consignee) của lô hàng, trên bill có thể hiện logo của hãng tàu. Hoặc do hãng tàu phát hành cho công ty giao nhận vận chuyển (Forwarder/Logistics). Cụ thể 2 trường hợp trên như sau:

+ Khách gửi hàng có thể trực tiếp liên hệ và gửi hàng cho hãng tàu, lúc này khách sẽ trực tiếp nhận MBL và đứng tên chủ hàng (shipper), consignee là tên người mua hàng thực thụ

+ Khách gửi hàng cho Forwarder, nhưng khách muốn nhận MBL chứ không muốn nhận HBL, lúc này Forwarder chỉ đóng vai trò môi giới, nhận book tàu giùm khách. Lúc này Shipper là tên công ty Forwarder, consignee là tên đại lý của công ty Forwarder tại nước cảng đến.

MBL:

 Shipper: Real shipper/ Forwarder

 Consignee: Real consignee/ Forwarder Agent

Thông tin trên MASTER BILL VÀ HOUSE BILL:

– Shipper, consignee, POL (port of loading), POD (port of delivery), number and kind of package, description of goods, gross weight, measurement,…

Ví dụ về MASTER BILL VÀ HOUSE BILL

Khách hàng tại HCM nhập hàng vải từ cảng Thượng Hải về Cát Lái, theo giá FOB, số lượng 1 container 20 feet,  khách hàng liên hệ Forwarder (FWD) tại HCM để book tàu (thuê phương tiện vận chuyển), thực tế là book 1 container 20’. Sau khi nhận yêu cầu khách hàng FWD liên hệ đại lí tại Trung Quốc để book container, khi tàu chạy đại lí sẽ làm HBL gửi cho FWD thể hiện thông tin khách hàng (consignee) và chủ hàng (shipper) và thông tin lô hàng,…, thông tin của FWD sẽ đứng ở một ô trên HBL.

Trong trường hợp này đại lí Trung Quốc book container qua hãng tàu, lúc này hãng tàu sẽ phát hành MBL thể hiện shipper là đại lí Trung Quốc, consignee là FWD HCM và thông tin lô hàng,….

 

Việc chỉnh sửa MASTER BILL VÀ HOUSE BILL nếu sau khi đã khai manifest hoặc quá thời gian cho phép của hãng tàu sẽ bị thu phí.

Hàng nguyên container: việc sử dụng MASTER BILL VÀ HOUSE BILL tùy vào yêu cầu của khách hàng hoặc nếu khách hàng không có yêu cầu lựa chọn HBL, MBL thì FWD thường phát hành HBL cho khách hàng để bảo đảm thông tin khách hàng và tạo mối quan hệ với đại lí vì khi hàng đến cảng đích, người nhận hàng sẽ đến đại lí của FWD để nhận lệnh và đóng phí cho đại lí, tuy nhiên nếu khách hàng yêu cầu lấy MBL từ hãng tàu, lúc này FWD chỉ như trung gian, mặc dù FWD book qua hãng tàu, trên MBL lúc này shipper không phải là FWD và consignee không phải đại lí của FWD tại nước sở tại mà shipper và consignee thực tế của lô hàng.

Một số điểm khác nhau giữa MBL và HBL

  1. HBL là do Forwarder phát hành nên dễ chỉnh sửa hơn so với MBL có thể tùy ý chỉnh sửa theo nhu cầu của shipper.
  2. Tuy nhiên HBL lại rủi ro hơn MBL nhiều, vì khi có rủi ro nếu có MBL gốc thì shipper có thể kiện hãng tàu được, còn HBL gốc không có hiệu lực đỗi với hãng tàu, chỉ có hiệu lực giữa shipper và forwarder mà thôi.
  3. MBL có 1 dấu và chữ kí, HBL có thể có 2 (1 của người gom hàng và 1 có thể của người chuyên chở xác nhận việc đã xếp hàng lên tàu)
  4. MBL ghi cảng đi đến, HBL ghi nơi giao nhận.
  5. Trên mặt MBL ghi tên, logo hãng tàu còn HBL ghi tên, logo người giao nhận.

Nguồn: Sưu tầm, tổng hợp và biên tập

 

Leave a comment

Your email address will not be published.